Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện THPT Nam Hà

    Thạch Lam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Oanh
    Ngày gửi: 09h:14' 20-02-2025
    Dung lượng: 2.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    THẠCH LAM TUYỂN TẬP
    Tác giả: Thạch Lam
    Xuất bản: NXB Văn Học năm 2004
    Soát lỗi: Trúc Quỳnh Đặng, Hà Du
    THƯ VIỆN EBOOK (TVE-4U)

    Sơ lược tiểu sử:

    Thạch Lam sinh ngày 7-7-1910, tên thật là Nguyễn Tường Vinh,

    sau đ i là Nguyễn Tường Lân. Bút danh chính là Thạch Lam. Ngoài
    ra, ông còn có các bút danh khác như Việt Sinh, Thiện S .

    Thạch Lam sinh ra tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Bố là công chức quê
    gốc ở Quảng Nam, làm việc tại Lào. Sau khi bố mất, mẹ theo ông
    nội ra làm tri huyện ở Cẩm Giàng (Hải Dương), vì vậy Thạch Lam
    có nhiều k niệm tại quê hương mới này. Ông là anh ruột với Nhất
    Linh (Nguyễn Tường Tam), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long).
    Sau khi thi đỗ trường cao đẳng tiểu học, Thạch Lam học trường
    canh nông một thời gian, sau học trường Anbe Xarô (Hà Nội), đỗ tú
    tài phần thứ nhất, rồi ra làm báo với các anh của mình.
    Năm 1932 tham gia ban biên tập tuần báo “Phong hóa”, sau đó
    tham gia thành lập t chức Tự lực văn đoàn. Hầu hết các tác phẩm
    của Thạch Lam đều in tải trên báo “Phong hóa”, “Ngày nay”, sau đó
    mới in thành sách.
    Tuy là cùng tham gia báo “Phong hóa”, Tự lực văn đoàn, nhưng
    khác với Nhất Linh, Khải Hưng, Hoàng Đạo, ông có khuynh hướng
    tiến gần tới chủ nghĩa hiện thực và tình cảm nghiêng hoàn toàn về
    người nghèo kh , thông cảm chân thành với các cảnh ngộ éo le.
    Nhiều sáng tác của Thạch Lam có xu hướng tiến bộ tiêu biểu cho
    văn xuôi lãng mạn trong thời kỳ mặt trận dân chủ...
    Thạch Lam mắc bệnh lao và mất tại Yên Phụ (Hà Nội) ngày 28-6-

    1942, khi vừa 32 tu i.
    Các tác phẩm chính: “Gió đầu mùa” (Tập truyện ngắn, 1937);
    “Nắng trong vườn” (Tập truyện ngắn, 1938); “Ngày mới” (Truyện
    dài, 1939); “Theo dòng” (Bình luận văn học, 1941); “S i tóc” (Tập
    truyện ngắn, 1942); “Hà Nội băm sáu phố phường” (Bút ký, 1943)
    và một số truyện ngắn thiếu nhi khác.

    I
    Truyện ngắn

    Đứa con đầu lòng

    Tân nhớ lại một cách rõ ràng những giờ chàng chờ đ

    i trong

    căn phòng ở hộ sinh viện. Thì giờ lúc ấy sao hình như đi chậm thế!
    Tân tưởng cái bu i ấy kéo dài r a mãi không bao giờ hết. Chàng
    nóng ruột như lửa đốt, đi đi lại lại trong phòng, ngồi xuống chiếc ghế
    ở bên tường một lát rồi lại đứng dậy. Chàng đưa mắt nhìn qua
    những bàn ghế giản dị và sơn trắng, xếp đặt một cách gọn ghẽ. Rồi
    chàng chăm chú nhìn cái cánh cửa đóng ở góc phòng. Bên kia cánh
    cửa, v

    chàng đang chờ đ i cái bí mật lạ lùng của sự sinh nở.

    Thỉnh thoảng cửa phòng hé mở, một cô đ

    mặc áo trắng rón rén

    bước ra. Tân thoáng nghe thấy những tiếng kêu khẽ và đau đớn.
    Chàng để ý dò xét nét mặt của cô đ nhưng vẫn thấy cô ta bình tĩnh
    như thường, nhẹ nhàng đi ra ngoài lấy chai nước hay cái khăn mặt.
    Rồi cuộc chờ đ i khó chịu ấy hết. Tân nghe thấy mấy tiếng kêu
    thét trong phòng bên đưa sang, tiếp đến tiếng trẻ con khóc. Một lát,
    cánh cửa phòng mở rộng, một cô đ ghé đầu ra ngoài mỉm cười:
    - Mời ông vào. Xong cả rồi.
    Tân theo cô ta bước vào trong phòng. Chàng thấy mấy cô đ
    xúm xít chung quanh cái nôi mây và thoáng nhìn thấy giữa đống vải
    trắng một vật gì đỏ nõn đang động đậy. Tân đến gần bên giường.
    V

    chàng nằm ngả đầu trên gối trắng, nét mặt xanh xao và mệt

    nhọc. Nhưng hai con mắt sáng lên như vui mừng nhận thấy chàng.
    Trong gian phòng yên lặng vẫn phảng phất cái không khí của một

    sự bí mật gì quan trọng. Các cô đ nói với nhau khe khẽ. Tân ngồi
    xuống cái ghế đầu giường, cầm lấy tay v . Chàng thấy bàn tay lạnh
    và ướt đẫm mồ hôi.
    Bà đ chính đã lót xong tã cho đứa bé, đưa đến trước mặt Tân,
    vui vẻ nói:
    - Ông xem cô bé có khỏe không? Đư c hơn ba cân rư i đấy.
    Trong khi v chàng giơ tay ra đón lấy đứa con một cách âu yếm
    và nâng niu, Tân tò mò ngắm nhìn cái đầu bé phủ tóc đen và mư t.
    Chàng thấy một cảm tưởng lạ, không rõ rệt, nẩy nở trong lòng.
    Nhưng cái rúm thịt động đậy, cái mầm sống nhỏ mọn và yếu ớt kia
    hình như không có một chút liên lạc gì với chàng cả. Tân không
    thấy cảm động như chàng tưởng, và cũng không thấy có một cảm
    tình gì đối với đứa con mới đẻ.
    Một tuần lễ sau ở nhà, Tân thấy v và vú em bận rộn rối rít như
    mỗi khi sắp đến ngày giỗ. Hai người suốt cả bu i chỉ ngồi cắt và
    khâu những cái áo con con, đan những đôi tất xinh xinh và sửa
    soạn cái nôi mây. Những công việc đó, Tân thấy hay hay, nhưng
    chàng không để tâm đến. Thỉnh thoảng chàng mới thoáng chú ý
    một chút đến đứa bé mà chàng thấy lúc nào cũng quấn kín trong
    miếng vải trắng và nhắm mắt ngủ k .
    Một bu i sáng, khi sắp sửa đi làm, Tân thấy v gọi:
    - Này cậu, lại mà xem, hay quá.
    Tân cúi xuống giường v chàng đương ngồi, và hai tay giữ chân
    đứa bé đặt nằm trước mặt. Hai bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé đang
    cọ quậy, giơ lên giơ xuống, hai con mắt bé lờ đờ, như hơi gạc nhiên
    nhìn.

    V chàng sung sướng hỏi:
    - Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?
    Nàng giơ ngón tay cho đứa bé nắm rồi tiếp:
    - Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!
    Tân cũng cầm lấy tay đứa bé, đáp:
    - Ừ...Nhưng sao cái đầu nó dài thế nhỉ. Tôi trông nó thế nào ấy.
    - Nó còn bé thì nó thế chứ sao.
    - Mà hình như một mắt to, một mắt nhỏ.
    V Tân ra ý không bằng lòng, cãi lại:
    - Không, hai mắt nó bằng nhau đấy chứ. Cậu chỉ hay chê nó thôi.
    Rồi nàng bế đứa con lên lòng, âu yếm cho bú.
    Dần dần Tân cũng quen với đứa trẻ lặng lẽ sống bên mình. Mỗi
    lần đi về, Tân lại đến cạnh cái nôi, vén tấm màn trắng lên và nhìn
    một lát đứa bé nằm trong đó vẫn hai tay cọ quậy và con mắt lờ đờ
    nhìn mọi vật. Tuy vậy, Tân không nhận thấy rõ rệt cái liên lạc gì với
    đứa trẻ. Vả lại chàng cũng không nghĩ sâu xa gì về sự đó, chỉ
    thoáng qua trong trí mà thôi.
    Một lần, chàng đang ngồi làm việc ở bàn giấy thì nghe tiếng v
    tắm cho đứa bé ở trong buồng. V chàng gọi:
    - Cậu vào đây hộ tôi một tý.
    Tân quay mặt vào phía buồng, đáp:
    - Con sen đâu, sao không gọi nó?
    - Nó còn bận giặt ngoài kia. Thì cậu vào hộ tôi một tí có làm sao.
    Giữ hộ tôi cái đầu để tôi tắm cho nó thôi mà.

    Tân ngần ngại bỏ dở công việc:
    - Nào thì vào!
    Rồi chàng vào trong buồng ngồi xuống bên cái chậu, hai tay giữ
    lấy đầu đứa bé. V chàng nói lấy lòng:
    - Cậu chỉ cầm một tý thôi. Tôi tắm cho nó xong ngay bây giờ đây.
    Tân nhìn đứa bé, không thích một chút nào. Cái thân hình ngắn
    ngủi và chân tay khẳng khiu của nó làm chàng khó chịu không
    muốn để ý đến. Chàng càu nhàu mắng đứa bé:
    - Nằm im! Mày cứ cọ quậy bắn cả nước lên tao đây này.
    Cái đầu đứa bé đầy xà phòng nên càng trơn khó giữ. Tân đã
    thấy mỏi tay. Chàng bảo v :
    - Thôi, giữ lấy nó, tôi mỏi tay lắm rồi.
    V chàng hơi gắt:
    - Hãy giữ một chút nữa. Mới có một tí thế đã kêu mỏi!
    Cái giọng nói ấy làm cho Tân không bằng lòng. Chàng buông
    đứa trẻ, đứng dậy trả lời xaÜng:
    - Không phải công việc của tôi. Với lại tôi trông nó khó chịu lắm.
    Tân không nhận thấy nét mặt ngạc nhiên và buồn rầu của v ,
    bước ra ngoài. Một chút hối hận, đến cửa, làm chàng quay mặt lại:
    v chàng đang ôm đầu đứa bé trong lòng khóc nức nở.
    Ra ngoài, Tân mới nhận thấy cái cử chỉ vô lý của mình. Một tình
    thương nảy nở trong lòng chàng. Tân muốn trở vào an ủi v , xin lỗi
    nàng vì đã làm nàng phải buồn rầu. Chàng đứng lại, định quay vào,
    nhưng không biết cái gì vẫn giữ chàng lại. Tân đến ngồi bên bàn,
    nghĩ ng i.

    Từ khi hai v

    chồng lấy nhau, những cuộc cãi cọ nhỏ mọn,

    không có nghĩa lý gì, vẫn thường xảy ra luôn. Vì một câu nói, vì một
    cớ không đâu, hai v

    chồng lại giận nhau. Mà cũng như lần này,

    Tân cảm thấy chàng chỉ nói một lời dịu ngọt, êm ái, là đủ cho hai
    bên hòa h p lại như cũ. Nhưng những câu ấy tan đi trên miệng
    trước khi nói ra lời. Một ý xấu khiến chàng yên lặng, và xui chàng
    giận dữ thêm lên để lấy phần phải về mình.
    Khi Tân trở lại phòng, chàng thấy v đang ngồi cho con bú. Đứa
    bé tắm rửa sạch sẽ trông hồng hào như đánh phấn. Cái bàn tay
    mập mạp xinh xắn của nó nắm chặt lấy tay mẹ như để cầu sự âu
    yếm và che chở. Thỉnh thoảng nó ầm ừ trong miệng có vẻ rất bằng
    lòng.
    Tân lại gần cúi nhìn đứa bé. Chàng thấy trong lòng một mối cảm
    động êm đềm và phiền phức. Nhìn đứa trẻ ngây thơ nằm trong lòng
    mẹ, Tân cảm thấy lần đầu cái thiêng liêng sâu xa của sự sống, và
    nhận thấy chính cái bé nhỏ, hèn mọn hàng ngày phá hoại cuộc đời.
    Từ đấy, đứa con như cái dây giữ sự hòa h p trong hai v chồng.
    Tân và v

    chàng không cãi nhau nữa. Mà nếu có xảy ra cuộc hờn

    giận, hai người chỉ cùng trông đứa trẻ mũm mỉm là lại hòa h p như
    cũ.
    Thỉnh thoảng v chồng bồng con đưa đến trước mặt Tân, chỉ cho
    chàng biết những cái thay đ i trong đứa bé.
    - Này cậu trông, cái thóp bây giờ đã nhỏ đi rồi đấy.
    Tân cũng chăm chú xem, rồi nói chuyện với con. Lúc chàng
    ngẩng lên nhìn, chàng thấy v

    ngư ng nghịu muốn giấu sự vui

    mừng làm ửng hồng đôi gò má. Tân cũng thấy trong tâm can một

    sự vui vẻ khác thường.
    Bu i sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân đã hỏi v :
    - Em đâu?
    - Nó ngủ, cái gì thế?
    - Tôi có cái này hay lắm.
    Tân giơ lên cho v xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng
    bước lại bên cạnh cái nôi rủ màn trắng sạch sẽ.
    V chàng vội nói:
    - Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong.
    Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn, nhìn thấy đứa trẻ nằm
    gọn trong vải trắng. Chàng cúi mình xuống, yên lặng đ i trên cặp
    môi nhỏ bé một nụ cười.
    Và Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một
    tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy.

    Nhà mẹ Lê

    Đoàn Thôn là một cái phố ch

    tồi tàn gần ngay một huyện lị

    nhỏ ở trung châu. Hai dãy nhà lụp xụp, mái tranh xuống thấp gần
    đến thềm, che nửa những cái chái nứa đã mục nát. Gần đấy là
    những quán ch

    xiêu vẹo đứng bao bọc một căn nhà gạch có gác

    bưng bít như một cái t chim, nhà của một người giàu trong làng
    làm ra để bán hàng. Người ở phố ch

    là bảy tám gia đình nghèo

    kh không biết ở đâu, mà người dân trong huyện thường gọi một
    cách khinh bỉ: những kẻ ngụ cư. Họ ở đâu đến đây kiếm ăn trong
    mấy năm trời làm đói kém, làm những nghề lặt vặt, người thì kéo
    xe, người thì đánh dậm, hay làm thuê, ở mướn cho những nhà giàu
    có trong làng. Người ta gọi mọi gia đình bằng tên người mẹ, nhà mẹ
    Hiền, nhà mẹ Đối, nhà mẹ Lê. Những gia đình này giống nhau ở
    chỗ cùng nghèo nàn như nhau cả.
    Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người
    con. Bác Lê là một người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt
    và chân tay nhăn nheo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố,
    ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa lớn
    mới có mười bảy tu i! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.
    Mẹ con bác ta ở một căn nhà lá. Chừng ấy người chen chúc
    trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc
    giường nan gãy nát. Mùa rét thì trải

    rơm đầy nhà, mẹ con cùng

    nằm ngủ trên đó, trông như một cái

    chó, chó mẹ và chó con lúc

    nhúc. Đối với người nghèo như bác một chồ ở như thế cũng tươm

    tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn
    suốt ngày cũng không đủ nuôi từng ấy đứa con. Từ bu i sáng tinh
    sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm
    mướn cho những người trong làng. Những ngày có người mướn ấy,
    tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn bu i tối đư c mấy bát
    gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đ i ở nhà.
    Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các
    ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, dưới gió bấc
    lạnh như lư i dao sắc khía vào da, bác Lê lo s , vì không ai mướn
    bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói, mấy đứa nhỏ nhất: con
    Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà
    không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại
    vì rét như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm lấy con trong

    rơm, để

    mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con lớn thì từ sáng
    đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua, con ốc, hay sau mùa
    gặt, đi mót những bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung
    sướng, nếu chúng mang về đư c một lư m, trong những ngày may
    mắn. Vội vàng bác Lê đẩy con ra, vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới
    chân vò nát, vét hột thóc giã lấy gạo. Rồi làm một bữa cơm nóng lúc
    bu i tối giá rét, mẹ con ngồi chung quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi
    bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.
    Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua ngày nọ
    rồi lại đến ngày kia. Tuy vậy cũng có những ngày vui vẻ. Những
    ngày nắng ấm trong năm, hay những bu i chiều mùa hạ, mẹ con
    bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm
    cũng làm như thế, các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện

    kín đáo; các trẻ con nô đùa dưới quán ch , còn các bà già thì ngồi
    giũ tóc cho chúng và gọt tóc chúng bằng mảnh chai sắc. Thằng cả
    ngồi đan lại cái lờ. Còn những đứa khác chơi quanh gần đấ Trong
    những ngày hè nóng bức, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu. Bác ta
    bảo là một cái bệnh gia truyền từ đời ông tam đại nên bác lấy phẩm
    xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại càng giống mẹ con
    một đàn gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho
    khỏi lẫn. Người phố ch

    thường nói đùa bác Lê về đàn con đông

    đúc ấ Bác Đối kéo xe, người vui tánh nhất xóm, không lần nào đi
    qua nhà bác Lê mà không bảo:
    - Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.
    Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu:
    - Mất bớt đi cho nó đ tội.
    Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công
    bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hy hơn cả. Nó là con thứ
    chín, ốm yếu, xanh xao nhất trong nhà. Bác thường bế nó lên hôn
    hít, rồi khoe với hàng xóm, nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu
    như đúc. Rồi bác lại ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại
    chuyện gì đã lâu lắm.
    Những đêm sáng trăng mùa hạ, cả phố bắc chõng ngồi ngoài
    đường, vì trong nhà nào cũng nóng như một cái lò, và hàng vạn con
    muỗi vo ve. Dưới bóng trăng, những đá rải đường trông đen lay láy
    và lấp loáng ánh sáng. Đất hãy còn giữ cái nóng bu i trưa và bốc
    lên một cái mùi riêng, lẫn mùi rác bẩn và mùi cát. Mọi người họp
    nhau nói chuyện. Trẻ con nghịch chạy quanh các bà mẹ, hình như
    quên cảnh kh sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng cười

    to và dài như người lớn, xen lẫn với tiếng khúc khích của các cô gái
    chúm chụm sát nhau trong bóng tối, người ta thấy tiếng bác Hiền
    nói vang, tiếng bác Đối thuật lại bu i xe kiếm may mắn. Trong một
    căn nhà đưa ra một tiếng võng và tiếng hát lanh lảnh của bác Đối
    gái, đã đem hết tiền bu i xe kiếm đư c của chồng vào hiệu khách
    mua một cân táo tầu rồi nằm võng vưà nhai vừa hát trống quân:
    “Ngày xưa, có anh Trương Chi...”
    Mấy năm sau, sự kiếm ăn ngày một thêm khó khăn. Bu i ch
    họp không đông đúc như trước. Những tiếng nói chuyện trong
    sương lúc mờ sáng của các người hàng sáo gánh gạo kĩu kịt trên
    đò để đem xuống huyện bán, người ta không nghe thấy nữa. Cái
    đói kém đến chen lần trong các phố ch . Bác Hiền ngày nào cũng
    gánh hàng đi rồi lại gánh hàng về. Còn thường thấy bác Đối kéo cái
    xe không, đi lảng vảng trong huyện và v bác cũng không hay nằm
    võng hát trống quân nữa. Bác Lê trong lúc ấy, đi khắp các nhà trong
    làng, xin làm mướn, nhưng các nhà có ruộng không ai mướn. Bác
    có làm không công, người ta cũng chỉ cho có nửa bát gạo, đùm bọc
    về không đủ cho ba đứa con ăn. Những ngày nhịn đói liên tiếp nhau
    luôn. Bác Lê thấy đàn con ngày một gầy còm, bu i chiều bác mệt
    nhọc chán nản trở về, hỏi thằng cả xem có đánh đư c ít cá nào
    không, thì nó buồn rầu khẽ lắc đầu, trả lời rằng các hồ ao người ta
    đã cấm không cho nó thả lờ nữa.
    Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê
    ôm chặt lấy nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm vì đèn
    đuốc không có nữa. Mấy gia đình ở phố ch đều đói rét và kh sở.
    Nhưng mồi nhà đều lặng lẽ, âm thầm và chịu kh một mình, không

    than thở với láng giềng hàng xóm lời gì, ai nấy đều biết cũng nghèo
    khốn như nhau.
    Một bu i chiều, mà đàn con đã nhịn đói suốt bu i, bác Lê vá lại
    manh áo rét, gọi đứa cả đến rồi bảo:
    - Ở nhà trông các em, tao vào ông Bá xem có xin đư c ít gạo
    nào không?
    - Ban sáng u đã vào nhà người ta có cho đâu, cậu Phúc lại còn
    bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra cắn.
    Bác Lê đáp:
    - Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn?
    Thôi tao cứ liều vào lần nữa xem sao.
    Nói xong, bác Lê mở cửa liếp ra đi. Trong lòng bác vẫn có chút
    hy vọng trong bu i sáng lúc vào xin gạo. Oâng Bá đã đu i mắng
    không cho. Bác nhớ lại cải cảnh sang trọng, ấm cúng trong nhà ông
    Bá. Những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá
    giầu có thế mà không thí cho mẹ con bác đư c bát gạo hay sao?
    Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau đ i trong

    rơm. Bác đi đâu

    không thấy về. Thằng Hy lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng rồi
    bảo chị nó:
    - Hình như u về đấy chị ạ.
    Thằng cả di lại bên cửa bếp nhìn ra ngòai. Bỗng có tiếng chân
    người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người
    nữa khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ
    chảy ròng ròng.
    Thằng cả hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác đặt người bị

    thương xuống chiếu rồi ra đi sau khi dặn:
    - Bây giờ, bác lấy lá lốt mà dịt cho nó cầm máu. Chó tây cắn thì
    độc lắm đấy.
    Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hy vừa mếu máo
    vừa hỏi:
    - U làm sao thế, u?
    Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết:
    - Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi lại còn thả chó ra
    đu i, tao đã chạy mà không kịp, nên nó cắn phải. May gặp bác Đối,
    chứ không biết bao giờ mới lê đư c về đến nhà.
    Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài:
    - Thế là mẹ con lấy gì ăn cho đ đói bây giờ.
    Thằng Hy òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ôm
    chúng nó vào lòng nghĩ thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt.
    Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối
    nhau lướt trên da bác, manh chiếu rách không đủ đắp ấm thân.
    Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, tư` lúc
    còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày kh sở nhọc nhằn. Cái
    nghèo không biết tự bao giờ đã vào nhà bác. Lúc sinh ra bác đã
    thấy nó rồi, và từ đó nó cứ theo liền bác mãi. Nhưng có người
    mướn làm thì không đến nỗi. Bác nhớ lại những bu i đi làm khó
    nhọc, nhưng bác vui vẻ đư c lĩnh gạo về cho con, những bữa cơm
    nóng mùa rét, những lúc thằng Hy và con Tý vui đùa giằng co chiếc
    bánh bác mua cho chúng.
    Rồi đến những ngày đi mót lúa mỏi lưng trên cánh đồng, nhặt

    những bông lúa thơm, những lúc vò lúa dưới chân... Bác Lê nhớ lại
    cái cảm giác vui mừng khi thấy cạnh bông lúa sắc sát vào thịt da.
    Đấy còn là những ngày no đủ. Rồi đến những bu i ch

    sáng,

    những ngày nhịn đói như hôm na Bác mơ màng thấy vàng son
    chói lọi trong nhà ông Bá, thấy nét mặt gian ác của cậu Phúc, con
    chó tây nhe nanh chồm đến.
    - Trời ơi! Sao tôi kh thế này?
    Tiếng kêu thất thanh của bác làm lũ trẻ giật mình, chúng nó ngồi
    dậy đưa mắt s hãi nhìn người mẹ.
    Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết. Người trong
    phố ch

    gom góp nhau mua cho bác một cỗ ván mọt, rồi đưa giúp

    bác ra cánh đồng, chôn vùi dưới bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.
    Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ
    con bác Lê ngồi ở vỉa hè. Con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc,
    nói dối rằng mẹ nó đi ch một lát rồi sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác
    Lê không trở về nữa và họ thấy một cái cảm giác lo s

    đè nén lấy

    tâm can họ, những người ở lại, những người còn sống mà cái
    nghèo kh cứ theo đu i mãi không biết bao giờ hết.

    Trở về

    Mùa hè năm nay, Tâm và v

    chàng về nghỉ mát ở nhà một

    người bạn ở vùng thôn quê. Khi người bạn mời thì Tâm nhận lời
    ngay, vì chàng tính đư c chỗ nghỉ mát suốt một tháng hè không
    phải mất tiền, vả lại tiện hơn nữa, chàng có dịp về thăm nhà cũng ở
    gần đó.
    Hôm ấy trời nắng mà có gió. Bu i sáng, ăn điểm tâm xong, hai
    v

    chồng Tâm bắc ghế ngồi ngoài hiên hưởng gió mát. Người bạn

    Tâm vì có việc phải ra tỉnh từ sớm. Tâm sực nhớ đến việc về thăm
    nhà, mà từ khi về nghỉ đến giờ, chàng cứ để lần lữa mãi. Chàng nói
    với v :
    - Hôm nay thế nào tôi cũng phải về thăm nhà mới đư c.
    V đáp:
    - Thế còn tôi, tôi làm gì cho hết ngày hôm nay? Ngồi đây mãi thì
    chán chết.
    - Độ 5 giờ chiều tôi đã về đây rồi.
    V Tâm nũng nịu:
    - Thế thành ra suốt một ngày tôi ở đây một mình à? Cậu ích k
    lắm, chỉ biết nghỉ đến công việc của cậu, mà không nghĩ đến tôi cả.
    Tâm ngẫm nghĩ. Muốn chiều v chàng bàn:
    - Hay là thế này thì tiện nhất. M cùng đi với tôi. Đến ga, chúng
    ta rẽ vào cao lâu ăn cơm sáng. Rồi m
    nhà độ một giờ, rồi tôi lại ra ngay.

    đ i tôi ở đấy, tôi về thăm

    V

    chàng bằng lòng. Hai người đánh xe ô tô nhà đi đến nhà ga

    xe hỏa cách đấy độ một chục cây số. Đến nơi, hai người dạo chơi
    phố, rồi vào hàng cơm nghỉ.
    Tâm bảo:
    - Bây giờ m đ i tôi ở đây, tôi về thăm bà cụ.
    - Phải đấy, nhưng đừng có ở lâu nhé. Cậu chớ quên rằng tôi đ i
    cậu ở đây đấy.
    Tâm mặc áo đi ra, để v

    ngồi trong căn phòng mát mẻ ở hàng

    cơm. Chàng đi theo một con đường đất đỏ, hai bên toàn cây dâm
    bụt lá xanh thẳm.
    Có đến 5, 6 năm nay, tâm không về thăm quê nhà. Trong thời
    gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị
    trong xã hội. Chàng lấy v , con một nhà giàu có, cũng không cho
    mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận đư c ở nhà quê gửi ra một bức
    thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ
    đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu
    sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc
    có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế riễu mình, khi còn nhỏ, đã có cái đời ở
    thôn quê là giản dị, và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô
    thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bạch dưới
    một túp liều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến
    mỉm cười.
    Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa.
    Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự
    đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ
    b n phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại

    càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải
    vư t qua để có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến
    để giấu không cho v biết! Có khi chàng nghĩ giận bà mẹ, vì bà mà
    chàng phải giấu diếm như thế.
    Tuy vậy, khi đến gần đầu làng, Tâm trong lòng cũng thấy cảm
    động. Hai bên cánh đồng lúa xanh gió đưa như n i sóng. Trên
    đường giải đá, mặt đất khô rắn lại và nứt nẻ nhiều chỗ. Tâm nhớ lại
    cái đất ấy đã làm đau đớn bàn chân non nớt của chàng khi còn nhỏ
    ngày ngày cắp sách đi học.
    Một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai: Tâm ngửng đầu
    lên nhìn, chàng vừa đi vừa bước vào dưới vòm lá tre xanh trong
    ngõ. Mấy đứa trẻ nhà quê trần truồng và đen sạm đương chơi
    khăng ở vệ đường. Khi thấy chàng đi qua, chúng đưa những cặp
    mắt bẩn thỉu nhấp nháy nhìn, và chùi tay giây bùn vào bắp chân.
    Nghĩ đến thuở nhỏ, chàng cũng chỉ là một đứa bẩn thỉu như những
    đứa trẻ này, Tâm tự phụ vì mình bây giờ đã vư t hẳn đư c cái bực
    nghéo hèn ấy.
    Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng
    người. Cái nhà cũ vẫãn như trước, không thay đ i, chỉ có sụp thấp
    hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân đồi đẩy
    cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ.
    Tâm cất tiến gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc
    ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã
    già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ k như mấy năm về
    trước.
    Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:

    - Con đã về đấy ư?
    - Vâng, chính tôi đây, bà vẫn đư c mạnh khỏe đấy chứ? Câu nói
    như khó khăn mới ra khỏi miệng đư c, vì Tâm thấy cái lãnh đạm
    của mình.
    - Bà ở đây một mình thôi à?
    Bà cụ cảm động đến nỗi không nói đư c. Một lát bà mới ấp úng:
    - Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.
    - Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác cả không? Tâm nhớ
    mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với
    chàng. Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.
    Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:
    - Đã lấy ai đâu. Con bé giở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy
    đám hỏi, mà nó không chịu lấy Bà cụ yên lặng một lát thỉnh thoảng
    nó vẫn nhắc đến cậu đấy.
    Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy
    bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào
    người.
    Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:
    - Năm ngoái bác cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng
    quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm.
    Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?. Tâm nhìn ra ngoài đáp:
    - “Như thường rồi”. Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:
    - “Ở làng có việc gì lạ không?”
    Bà cụ trả lời:
    - Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng đư c

    có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đ

    buồn. Nó thường vẫn

    làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã
    chịu khó lại hay làm.
    Có tiếng người đi ở ngoài vườn. Bà cụ ngừng lại: Có lẽ nó về
    đấy. Rồi bà cụ cất tiếng gọi:
    - Trinh đấy phải không con? Vào đây, có cậu Tâm vừa về chơi.
    Một thiếu nữ lách cửa liếp bước vào. Tâm trông ra thấy một cô
    gái quê ăn mặc giản dị, nhưng sạch sẽ. Đôi mắt Tâm gặp đôi mắt
    cô ta, đen láy, mở to nhìn chàng:
    - Cậu Tâm đấy, con không nhớ ư?
    Cô Trinh mỉm cười:
    - Thưa, có ạ, ai chứ cậu Tâm thì quên thế nào đư c.
    Hình như l lời, cô thiếu nữ cuối mặt, hơi e lệ. Cái cử chỉ ấy, và
    lời nói đã không làm cho Tâm cảm động, lại làm cho chàng hơi
    ghét. Cô gái quê mùa tưởng chàng để ý đến chắc? Vì vậy, Tâm cất
    tiếng hỏi hơi sẵng:
    - Thế nào, cô Trinh còn đ i gì mà không lấy chồng đi cho tôi ăn
    mừng.
    Thấy thiếu nữ không trả lời, Tâm để ý nhìn. Chàng thấy cô ta
    không thay đ i, tuy có nhớn lên mà vẫn là cái cô bé chơi đùa với
    chàng thuở còn nhỏ. Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không
    thay đ i mấy, và tính tình vẫn giữ đư c y nguyên. Nhưng chàng, thì
    chàng thay đ i khác hẳn rồi. Những k niệm cũ đối với chàng bây
    giờ thành ratrẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa
    chàng và cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng

    điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cái đời tối tăm
    nghèo kh .
    Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn
    ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con
    bác cả Sinh lấy v , hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng?
    Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không
    có liên lạc gì với nhau cả.
    Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về
    công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua
    loa lấy lệ.
    Nghĩ đến v đ i, Tâm vội vàng đứng dậy. Bà cụ nhìn theo khẩn
    khoản:
    - Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.
    - Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm.
    Tâm lại an ủi:
    - Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.
    Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm
    hơi kêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:
    - Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho.
    Bà cụ run run đ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.
    Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra:
    - Thôi, bà ở lại. Chào cô Trinh nhé. Bảo tôi có nhời hỏi thăm tất
    cả họ hàng.
    Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho đã làm xong b n
    phận.

    Khi Tâm bước vào hàng cơm, v chàng vui mừng lộ ra nét mặt,
    vì không ngờ chàng chóng thế. Trời hãy còn sớm. Hai v chồng rủ
    nhau đi ngắm cảnh, đ i đến chiều mát sẽ đi ô- tô về hứng gió.
    Hai người đi quanh quẩn trong phố, nhìn những cửa hàng nước
    tiều tụy của ta và những hiệu lớn của người Khách[1]. Mặt trời xế
    ngang chiếu ánh nắng lóe vào mắt, và giải vàng lên trên những mái
    nhà tranh. Ch

    đã vãn: những người đàn bà gồng gánh sắp ra về,

    trên mặt đất đầy những rác bẩn, những vỏ dưa, những lá gói: một
    cái mùi âm ấm bốc lên, cái mùi đặc biệt, hình như lẫn mùi đất, mùi
    ẩm, và mùi rác đốt. Tâm nhớ lại rõ rệt những ngày trẻ.
    Bỗng nhiên, Tâm giật lùi lại: Một bà cụ già khom lưng dựa bên
    một cô con gái, đi ra phía ga. Tâm nhận ra bà mẹ. Có lẽ bà cụ muốn
    đư c trông thấy con một lần nữa. Chắc bà tưởng Tâm đi xe hỏa.
    Chàng lộ vẻ khó chịu Bà cụ còn ra đây làm gì? Tâm s lúc bà cụ lại
    khóc lóc, để cố giữ chàng lại. Hay nắm lấy áo chàng mà kể lể giữa
    chốn đông người. Chàng tưởng nghe thấy những câu bình phẩm to
    nhỏ, và trông thấy những cái mỉm cười chế riễu của mọi người. V
    chàng sẽ nói thế nào?
    - Thôi, chúng ta về ngay đi.
    Tâm nói như người sốt ruột, giật cánh tay v rảo bước mau.
    Đ i bà cụ đi khuất đầu phố, Tâm và v trở lại nhà hàng trả tiền,
    rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm ru bắt đầu lướt trên
    đất.
    Khi đến chỗ quặt quá ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên
    cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô con gái.
    Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây,

    Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn
    mình.
    Tâm không ngoảnh lại chàng nghĩ đến bà mẹ, đến cô Trinh vẫn
    chơi đùa với chàng thuở nhỏ. Song những hình ảnh ấy như xa xăm
    lắm, và Tâm vẫn thấy dửng dưng không bận tâm trí. Giữa những k
    niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản: xe ô tô, v

    chàng,

    cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ.
    Phong cảnh đồng ruộng hai bên đường vùn vụt trốn lại sau như
    càng làm xa cách chàng với cảnh thôn quê cũ.

    Một cơn giận

    Một bu i tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một

    căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến
    những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây
    nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến
    riêng của mình.

    Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất
    tiếng nói:
    - Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không
    ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể
    các anh nghe một câu chuyện mà cái k niệm còn in sâu trong trí
    nhớ tôi.
    Cũng một bu i chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về,
    trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên
    không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn
    làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy
    lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
    Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay
    đằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi
    tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
    - Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
    - Thầy cho sáu xu.
    - Không, bốn xu là đúng giá rồi.

    Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tu i, cứ kéo cái xe
    theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng
    nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là
    một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta
    bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
    - Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
    Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng
    để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
    - Lại đây đi mà.
    Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đ i chứ không
    kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không
    đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh
    lên xe, vừa mắng:
    - Anh thật ...
     
    Gửi ý kiến